Văn học cách mạng – Thời kỳ của một nền văn học vị con người | Anybook.vn

0 Comments

Văn học các thời kỳ đều có chức năng riêng, tương ứng với thời kỳ ra đời của nó. Văn học không thể tách rời cuộc sống mà nó khởi nguồn. Không nhà văn nào có thể tách khỏi hơi thở thời đại. Nam Cao sau Cách mạng tháng Tám đã có ý tưởng: “Chúng ta hãy sống và viết, chúng ta hãy hòa mình vào cuộc sống của nhân dân”. Đây là thời đại văn học vượt lên trên cái tôi nhỏ bé để hòa vào cái lớn hơn, những con người, cuộc chiến hào hùng của các dân tộc. Văn học có vai trò trở thành vũ khí chống giặc ngoại xâm, nên không quá khi nói văn học cách mạng là văn học thời đại vì nhân dân.

LỊCH SỬ CỦA NGÀI

Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975 là văn học của chế độ mới, các dòng văn nghệ thời kỳ này có khuynh hướng là các nhà văn quân đội. Đây là thời kỳ diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, điển hình nhất là Cách mạng Tháng Tám, ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm, chính kiến ​​của các nhà văn thời kỳ này. Thay vì rơi vào “vật cản giữa hai dòng nước”, họ đã tìm ra cách giải thoát cho chính mình. Đây là con đường đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc. Trước năm 1945, ảnh hưởng của các tổ chức đảng tranh giành quyền lực lẫn nhau, ảnh hưởng đến đầu óc của những người cầm bút, cách mạng thất bại, họ bị đánh đập dữ dội, không tìm được đường ra thuyền. Nhưng thành công của Cách mạng Tháng Tám đã thổi luồng gió mới. Văn học lúc bấy giờ có một nghề mới là phục vụ cách mạng, cần phải thay đổi tác giả. Văn học hiện thực và văn học La Mã bước vào thời kỳ thoái trào kéo theo sự ra đời của văn học cách mạng.

Văn học cách mạng có thể chia thành các thời kỳ sau:

* Chặng đường từ năm 1945 đến năm 1954

Văn học giai đoạn 1945 – 1954 khắc họa không khí phấn khởi của đất nước khi đất nước giành được độc lập và cuộc kháng chiến chống Pháp, những con người gắn bó với cuộc đời cách mạng và cuộc kháng chiến. Văn học thời kỳ này tập trung vào việc tìm kiếm những điểm mạnh và đức tính của con người. Cuộc kháng chiến thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào một tương lai tất yếu.

* Chặng đường từ năm 1955 đến năm 1964

Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1964 là chặng đường văn học xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Đó là thời đại của văn học ca ngợi công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, với lòng hăng say, hăng say lao động. Mừng một cuộc sống mới, một niềm vui mới với những mong ước về một tương lai tốt đẹp hơn.

* Chặng đường từ 1965 đến 1975

Văn học giai đoạn 1965 – 1975 tập trung vào chủ đề ca ngợi lòng yêu nước và lòng dũng cảm cách mạng. Trong giai đoạn 1945-1975, cần xem xét tài liệu của những vùng bị tạm chiếm, nơi có nhiều khuynh hướng chống cộng, vô đạo đức, tiến bộ, yêu nước và cách mạng. Đặc biệt, những tác phẩm viết về miền Nam Việt Nam với nền văn hóa đặc trưng, ​​cũng như thái độ phản chiến của người dân nơi đây đã trở thành hình tượng trung tâm của sáng tác.

Đặc điểm của văn học cách mạng

* Chủ đề

Nền văn học đang hướng tới cách mạng, gắn bó sâu sắc với vai trò chung của dân tộc. Nhà văn cũng là chiến sĩ, và chữ viết đã trở thành một vũ khí hữu hiệu để thúc đẩy cuộc cách mạng của nhân dân. Quá trình vận động và phát triển của văn học tương ứng với từng giai đoạn trong lịch sử đất nước: Ca ngợi Cách mạng và Đời sống mới (1945-1946); hân hoan trong công cuộc kháng chiến, bám sát từng chiến dịch, biểu dương thành tích, phục vụ công cuộc cải cách ruộng đất (1946-1954); ca ngợi thành tựu tái thiết kinh tế và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (hợp tác hoá nông nghiệp, công nghiệp xã hội chủ nghĩa); phục vụ công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1954-1965); cổ vũ phong trào toàn quốc chống Mỹ cứu nước (1964-1975).

Đề tài văn học cách mạng viết về những trận đánh hào hùng với hình ảnh những người lính. Mỗi công việc đều có dáng vẻ của người lính và người lính của Bác sẽ mang trong mình lý tưởng cao đẹp cũng như tinh thần chiến đấu. Ông viết nhiều về những sự thật tàn khốc của chiến tranh nhưng ngắn gọn, minh họa để làm nổi bật vẻ đẹp của người lính. Văn học thời kỳ này không chấp nhận những cảm xúc u sầu, thi vị mà nó cho là ích kỷ.

* Xu hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Khuynh hướng sử thi nói lên những vấn đề lịch sử quan trọng của đất nước và dân tộc. Nhân vật chính thường là những người thể hiện trọng nghĩa, dũng cảm, bản lĩnh, ý chí đối với đất nước; đại diện cho lý tưởng của xã hội hơn là lợi ích và nguyện vọng của cá nhân. Con người được nhìn thấy rõ nhất với cuộc sống tuyệt vời và những cảm xúc tuyệt vời. Gọi là khuynh hướng sử thi vì văn học thời kỳ này có đặc điểm giống với thể loại sử thi trong văn học dân gian, ca ngợi các anh hùng đất nước. Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 có tính chất hấp dẫn, tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản, sự kiện lịch sử quan trọng, lòng yêu nước và lòng dũng cảm. Các nhân vật trong kiệt tác tiêu biểu cho lí tưởng vì nước, gói ghém vai vế của mỗi người đối với người cùng quê, phản ánh những phẩm chất tốt đẹp của xã hội. Giọng hài hòa, trang trọng.

Văn học cách mạng cũng tràn đầy cảm hứng lãng mạn. Đây là mặt tình cảm, thể hiện qua niềm hy vọng và tình yêu cuộc sống của người lính. Thực tế phũ phàng nhưng với cảm hứng lãng mạn, họ nhìn cuộc đời theo một cách hoàn toàn khác và nên thơ. Chúng ta thấy rằng tất cả những việc làm của thời kỳ đó đều thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào cuộc đấu tranh giành độc lập của Tổ quốc. Đây là lý do tại sao văn học đương đại giúp cân bằng giữa thực tế và khát vọng của người dân trong thời đại mới. Điều này càng thể hiện rõ ở thái độ tràn đầy hy vọng của người lính yêu đời.

* Văn học bình dân

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn học bỏ qua cái tôi cá nhân và hướng đến cái lớn hơn. Quan điểm văn học về Đảng này cũng được các nhà văn xung phong chấp nhận. Vì họ có tâm hồn yêu nước. Họ không tiếc lời ca ngợi những người lao động là lực lượng chủ yếu đứng sau Cách mạng Tháng Tám để rồi đưa cả cuộc kháng chiến vào đôi vai lực lưỡng của họ. Ca ngợi nhân dân, hòa mình vào đời sống công cộng, hay thậm chí tạo dựng hình ảnh công nhân, nông dân, chiến sĩ, công dân … đầy sức mạnh và quyền lực. Đặc điểm này được thể hiện rõ qua quan điểm thơ Chế Lan Viên:

Không có bài thơ nào trong trái tim khép kín

Linh hồn tôi chờ đợi để gặp bạn ở trên

Tác giả nổi tiếng

Với hình thức thể hiện phong phú, đa dạng như truyện ngắn, kí ức, thơ, văn xuôi, kịch, lí luận phê bình… nhưng hầu hết các tác phẩm đều hướng đến cảm hứng sử thi và lãng mạn. Đối với thơ ca, không thể không nhắc đến Tố Hữu, một nhà thơ đi đầu trong phong trào cách mạng, ngay từ đầu đã giác ngộ và tập trung cho con đường đúng đắn, nổi tiếng với tác phẩm thơ Việt Bắc, Máu và hoa. Còn có Hồ Chí Minh với sự phục vụ của cách mạng như đêm rằm, mồng một. Thơ ca là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các tác phẩm truyền thống như: Ngọn gió lộng của Tố Hữu; Ánh sáng và bùn của Chế Lan Viên; Thành phố Giang Nam…

Đối với văn xuôi không thể không nhắc đến những cái tên như Nguyễn Khải với Mùa lạc, Tô Hoài với Vợ chồng A Phủ, Kim Lân với Vợ người ta, những tác phẩm kinh điển như Sơn Nam Hương rừng Cà Mau, Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng. . Mother Holding The Gun, The Country Rises, The Woods Of The Serpents, Our Invincible Homeland là một tác phẩm rất hay trong thời đại ngày nay.

Văn học cách mạng thực sự là một thời kỳ được nhân hóa, nó đã hy sinh những cảm xúc của chính mình để nhường chỗ cho những cảm xúc của cộng đồng rộng lớn hơn. Hoàn thành tốt công tác văn học, ca ngợi lịch sử đất nước và các cuộc chiến tranh hào hùng.

bararata

READ  Nghệ Thuật Trong Văn Học Là Gì | Anybook.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud

[block id=”siderbar”]