Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu | Anybook.vn

0 Comments

Nguyễn đình chiểu là nhà thơ, nhà văn của nền văn hóa hiện đại Việt Nam. Ông đã sáng tạo ra nhiều thể loại, trong đó thơ Nôm là nổi bật nhất. Nếu bạn muốn biết thêm về Cuộc đời và sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Hãy xem bài viết dưới đây bạn nhé!

1. Tiểu sử

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), hiệu là Đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, bí danh Trọng Phú, húy Trai (sau mù), là một nhà thơ lớn ở Nam Bộ thời sau. .

Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ (1 tháng 7 năm 1822) tại quê mẹ, làng Tân Thới, tổng Tân Bình, phủ Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc xứ ‘i Cầu Kho, huyện. 1, Tp. Hồ Chí Minh).

Anh xuất thân từ gia đình nhà nho. Thân sinh là Nguyễn Đình Huy, quê ở làng Bồ Điền, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc Huyện Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế. Lớn lên, anh Huy lấy vợ tại đây và có hai người con (một trai, một gái). Vào mùa hạ tháng 5 năm Canh Thìn (1820), phái tả quân của Lê Văn Duyệt được triều đình Huế cử làm Tổng đốc Gia Định Thành. Đầu mùa thu, Nguyễn Đình Huy gia nhập Tả quân tiếp tục làm thư ký Văn Hán Ty ở Phủ thống sứ. Ở Gia Định, ông Huy có vợ thứ là bà Trương Thị Thiết, người làng Tân Thới, sinh được bảy người con trai (4 trai, 3 gái) và Nguyễn Đình Chiểu là con đầu.

READ  "Thu Vịnh" (Nguyễn Khuyến) Tập Thơ Chữ Nôm | Anybook.vn

Khi còn nhỏ Nguyễn Đình Chiểu được mẹ nuôi dưỡng. Khi lên 6, 7 tuổi, anh học với một giáo viên dạy bản đồ trong thành phố.

Năm 1832, quân cánh tả của Lê Văn Duyệt qua đời. Năm sau (1833), con nuôi của Tả Quân là Lê Văn Khôi vì bất mãn, nổi dậy chiếm đóng Phiên An ở Gia Định, rồi chiếm Nam Kỳ. Trong cuộc khởi nghĩa, cha của Nguyễn Đình Chiểu chạy vào Huế và bị cách chức. Sau khi thương con, người cha bí mật trở về nam, đem con gửi cho một người bạn làm Thái bảo ở Huế để tiếp tục học hành. Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế từ năm 11 tuổi (1833) đến năm 18 tuổi (1840) thì về Gia Định.

Năm Quý Mão (1843), ông đỗ Tú tài tại trường thi Gia Định năm 21 tuổi. Khi đó, một người trong gia đình họ Võ đã hứa sẽ sinh cho cô một đứa con gái.

Năm 1847, ông ra Huế học để chờ kỳ thi năm Kỉ Dậu (1849). Lần này anh đi cùng em trai là Nguyễn Đình Tựu (10 tuổi).

Mẹ Nguyễn Đình Chiểu mất tại Gia Định vào ngày rằm tháng 11 năm Dương lịch (ngày 31 tháng 12 năm 1848). Khi hay tin, mẹ cô đã bỏ thi và đưa cô vào Nam khóc.

Trên đường về, vì buồn và mẹ khóc, vì công việc vất vả và thời tiết trái mùa, ông vào Quảng Nam thì Nguyễn Đình Chiểu đang ốm nặng. Trong khi đi nghỉ dưỡng tại nhà của một thầy thuốc dòng dõi hoàng tộc, tuy bệnh tình không thuyên giảm nhưng ông cũng học về y học. Mắt mù, chồng sắp cưới phá đồng, tan cửa nát nhà… Nguyễn Đình Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ đến năm 1851, mở trường dạy học và y học ở Bình Vị (Gia Định). Những bài thơ Lục Vân Tiên có lẽ được sáng tác vào thời điểm đó.

READ  Tuyển Chọn Những Bài Thơ 7 Chữ Về Mưa Buồn, Lãng Mạn Nhất | Anybook.vn

Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu lấy bà Lê Thị Điền (1835-1886, quê Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, quê Gia Định, tỉnh Long An) làm vợ. Em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò của ông, bà Điền. Cảm kích và yêu mến cô giáo, cô đã đề nghị gia đình hợp tác. Bài thơ Đường Tử-Hà Mậu của ông có lẽ được viết vào thời đó

2. Phương pháp sáng tạo

Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là vấn đề của văn học, mà ông còn là một nhà giáo, một thầy thuốc và một nhà quan sát. Kết cấu: văn học chiến tranh, nhân văn, đầy tinh thần công kích và tinh thần nhân ái.

Tác phẩm của ông nói riêng bằng chữ Nôm, mang nặng những lý tưởng đạo đức nhân văn. Cách cư xử làm người của Người mang tinh thần nhân hậu của Nho giáo nhưng đầy tính nhân văn và tinh thần dân tộc. Trong tác phẩm của Người, những con người nhân hậu, ngay thẳng, thủy chung, dũng cảm chống lại các thế lực tàn ác, cứu nhân độ thế là tấm gương sáng nhất.

Thời chống Pháp, Nguyễn Đình Chiểu đã đóng góp nhiều về văn thơ cho đất nước, đúng là viết một thời vàng son khó khăn bởi nỗi đau chiến tranh. Hơn nữa, anh còn mạnh dạn phê phán, lên án những tội ác mà kẻ thù đã gây ra. Các tác phẩm khác cũng khuyến khích người đọc có thêm sức mạnh để chiến đấu với kẻ thù.

READ  1001 bài thơ màu TÍM yêu thương hay, màu của tình thủy chung | Anybook.vn

Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu không rườm rà, phức tạp mà thường chứa đựng những câu văn chân chất, giản dị, mộc mạc. Những bài thơ này gửi đến nhân dân, gửi đến nhân dân, trước cuộc kháng chiến chống kẻ thù của dân tộc.

Nghệ thuật được sử dụng trong thơ và văn là: bút pháp đậm đà, mang hơi thở cuộc sống, mang đậm sắc thái phương Nam, lối thơ tự sự mang màu sắc hiên ngang.

3. Công việc thường xuyên

Chạy giặc, Giã từ một nghĩa sĩ, Tế Cần Giuộc, nghĩa sĩ xung trận, mười hai bài thơ và bài văn tế Tướng quân Trương Định, Những bài thơ về phương Đông của danh sĩ Phan Thanh Giản, Mười bài thơ của Ba Tri Đốc Binh Phan Tông , Lục tỉnh chiến sĩ tử trận, Hic gọi quân khởi nghĩa đánh tây, Thao thức hịch, Chờ gió phương đông, Tha di …

4. Vinh quang

Trong Chiến tranh Việt Nam, năm 1965, Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam đã thành lập Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu cho các tác giả và tác phẩm xuất sắc trong lĩnh vực văn học nghệ thuật ở miền Nam.

Cảm ơn bạn đọc và tiếp tục ủng hộ bạn đọc!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Protected with IP Blacklist CloudIP Blacklist Cloud

[block id=”siderbar”]